Tên nghiên cứu: Dịch chiết tỏi già AGE và thành phần S-Allyl-Cysteine (SAC) ức chế sự biểu hiện của các gen gây viêm được tạo ra trong tế bào biểu mô phế quản IB3-1 do tiếp xúc với protein gai SARS-CoV-2 và vắc-xin BNT162b2. (Aged Garlic Extract (AGE) and Its Constituent S-Allyl-Cysteine (SAC) Inhibit the Expression of Pro-Inflammatory Genes Induced in Bronchial Epithelial IB3-1 Cells by Exposure to the SARS-CoV-2 Spike Protein and the BNT162b2 Vaccine.)
Tác giả: Jessica Gasparello, Chiara Papi , Roberto Gambari cùng các cộng sự
Tại: Khoa Khoa học Đời sống và Công nghệ Sinh học, Đại học Ferrara, Ý.
Năm: 2024. 
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng ức chế viêm của Dịch chiết tỏi già AGE (Aged Garlic Extract) và thành phần hoạt tính chính S-allyl-cysteine (SAC) đối với biểu hiện các gen tiền viêm (IL-1β, IL-6, IL-8) do protein gai SARS-CoV-2 hoặc vắc-xin BNT162b2 kích hoạt trong tế bào biểu mô phế quản người IB3-1.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Tế bào biểu mô phế quản người IB3-1 (dòng tế bào hô hấp mang đột biến CFTR ΔF508), được nuôi trong môi trường RPMI 1640 + 10% FBS.
- Nhóm đối chứng: Tế bào bình thường, không thêm gì.
- Nhóm kích hoạt viêm: Tế bào tiếp xúc với protein gai SARS-CoV-2 (1 µg/mL) hoặc vắc-xin BNT162b2 (pha loãng 1:100) trong 24 giờ.
- Nhóm AGE + kích hoạt: Tế bào được tiền xử lý AGE (0.1–1.0 mg/mL) trong 24 giờ trước khi thêm protein gai/vắc-xin.
- Nhóm SAC + kích hoạt: Tế bào được tiền xử lý SAC (10–100 µM) trong 24 giờ trước khi thêm protein gai/vắc-xin.
Phương pháp nghiên cứu:
– Nghiên cứu in vitro, thiết kế có nhóm đối chứng song song, đo lường các chỉ số:
– Biểu hiện gen tiền viêm (IL-1β, IL-6, IL-8): Phương pháp qRT-PCR với primer đặc hiệu, chuẩn hóa theo GAPDH bằng công thức 2^(−ΔΔCt).
– Nồng độ protein cytokine ngoại bào: Phương pháp ELISA đo IL-6 và IL-8 trong môi trường nuôi cấy.
– Tỷ lệ sống sót tế bào: Phương pháp MTT assay, đo độ hấp thụ ở 570 nm.
– Tương tác phân tử với TLR4: Phương pháp mô phỏng docking bằng AutoDock Vina trên phức hợp TLR4/MD-2 (PDB: 3FXI).
KẾT QUẢ
Tác dụng ức chế viêm của AGE:
– Giảm 78% IL-1β, 82% IL-6, 85% IL-8 do protein gai (p < 0.01).
– Giảm 75% IL-1β, 79% IL-6, 81% IL-8 do vắc-xin (p < 0.01).
Tác dụng của SAC và cơ chế TLR4:
– SAC 50 µM giảm 73–80% các gen viêm ở cả hai tác nhân (p < 0.01).
– Không có khác biệt đáng kể về khả năng sống tế bào giữa nhóm tiền xử lý AGE và nhóm đối chứng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu chứng minh dịch chiết tỏi già AGE và SAC ức chế hiệu quả biểu hiện gen và protein tiền viêm (IL-1β, IL-6, IL-8) do protein gai SARS-CoV-2 hoặc vắc-xin BNT162b2 gây ra thông qua:
– Ức chế trực tiếp con đường cytokine.
– Can thiệp thụ thể TLR4, ngăn kích hoạt NF-κB.
Tiềm năng của AGE trong ứng dụng lâm sàng:
– Hỗ trợ giảm viêm hô hấp ở bệnh nhân COVID-19.
– Giảm tác dụng phụ viêm sau tiêm vắc-xin mRNA.
– Bổ sung miễn dịch cho nhóm nguy cơ cao (người cao tuổi, bệnh phổi mạn tính).
Nguồn: https://www.mdpi.com/1420-3049/29/24/5938











